Sáng kiến kinh nghiệm – Tổ chức trò chơi học tập

Tổ chức trò chơi trong học tập

I – PHẦN MỞ ĐẦU

I. 1. Lý do chon đề tài:

a. Xuất phát từ yêu cầu đạt ra trong quá trình triển khai thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học và giáo dục kĩ năng sống ở một số môn học hiện nay.

Mục tiêu giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên Trung học cơ sở. Giáo dục Tiểu học nhằm đảm bảo cho học sinh có những hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người, có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, những hiểu biết ban đầu về múa, hát, âm nhạc và mĩ thuật. Giáo dục Tiểu học trước hết phải làm cho học sinh thích đi học, thích đến trường, yêu trường, yêu lớp, yêu thầy cô giáo, yêu quý bạn bè và cảm thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui.

Mục tiêu của giáo dục hiện nay là giúp học sinh học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày. Từ những hành vi cố định, chuẩn mực trong các bài học học sinh xây dựng và hình thành những kĩ năng sống cho mình phù hợp trong đời sống hàng ngày, giúp các em phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

b. Xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong việc đào tạo lớp người mới phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Giáo dục phải nhằm đào tạo nhưng con người Việt Nam có lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức tốt đẹp của dân tộc, có năng lực, bản lĩnh để thích ứng với những biến đổi của xã hội trong nền kinh tế thị trường, những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Toàn bộ hệ thống giáo dục phải hướng vào mục tiêu đào tạo những con người có kiến thức, văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo, có kỹ thuật, giầu lòng yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.

Để đạt được mục tiêu này giáo dục nhà trường đóng vai trò rất quan trọng, bên cạnh đó là giáo dục của xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn.

Đất nước ta với nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới. Do đó đòi hỏi những chủ nhân tương lai của đất nước phải đặt được những chuẩn mực đào tạo tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập nền kinh tế thế giới, đòi

hỏi phải có những con người mới có nhận thức tiên tiến, năng động, có hiểu biết, có trình độ khoa học kỹ thuật, có lòng yêu nước nồng nàn. Do đó giáo dục phải đào tạo ra những con người phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Vì vậy đổi mới trong giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp giảng dạy nói riêng là yêu cầu cần thiết.

c. Xuất phát từ yêu cầu đạt ra trong quá trình triển khai thực hiện sách giáo khoa Tiểu học mới.

Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong dạy học ở Tiểu học, nhất là trong tiến trình đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học hiện nay ở tiểu học. Nó tạo điều kiện trực tiếp cho người dạy và người học huy động các năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao tính khách quan khoa học của kiến thức, trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên, học sinh được trình bày, nêu ý kiến về nhận thức của mình thông qua việc thảo luận. Hoạt động trò chơi học tập sẽ góp phần đắc lực cho việc hình thành và rèn luyện các kiến thức, kỹ năng cơ bản, tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn làm cho lao động sư phạm hiệu quả hơn.

Trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động thuần túy cá nhân, mà lớp học là môi trường giao tiếp thầy-trò, trò-trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong con đường đi tới những tri thức mới. Trong kiểu dạy thông báo đồng loạt, thông tin từ thầy đến trò thì quan hệ giao tiếp chủ yếu là thầy-trò. Trong phương pháp học tập hợp tác vẫn có giao tiếp thầy trò nhưng nổi lên mối quan hệ giao tiếp trò-trò, thông qua sự hợp tác tìm tòi nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp.

Như vậy việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp dạy học tích cực, hình thức tổ chức hoạt động học hợp lý trong dạy học nói chung và trong nhà trường tiểu học nói riêng. Đó là một yêu cầu hết sức quan trọng đặt ra nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong việc triển khai và thực hiện chương trình sách giáo khoa tiểu học mới.

d. Xuất phát từ định hướng về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học.

Trong định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, độc lập của học sinh để giúp cho học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề của bài học, để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức và biết vận dụng chúng là một trong những nội dung cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học.

Việc dạy học thầy giảng trò nghe, ghi chép và làm theo mẫu làm cho người học thụ động, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Việc áp dụng tổ chức trò chơi học tập sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học, giúp cho tư duy và nhận thức của người học phát triển theo chiều hướng lô gích từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng đến thực tiễn. Trước đây trong dạy học chúng ta chỉ chú ý đến truyền thụ trí thức thuần túy. Việc tổ chức dạy học theo hình thức “trò chơi học tập” cho phép các cá nhân trong lớp cùng thảo luận, nghiên cứu, chia sẻ những băn khoăn, suy nghĩ, kinh nghiệm của mình, cùng nhau xây dựng nhận thức mới về các nội dung môn học. Khi hoạt động trò chơi, mỗi cá nhân có thể hiểu rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy được điều mình cần phải học hỏi thêm về các nội dung của bài học. Việc tiếp thu kiến thức trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Từ xưa bên cạnh câu: “Không thầy đố mày làm nên” cha ông ta đã có câu: “Học thầy không tày học bạn”. Thoát nhìn tưởng như học tập hợp tác mâu thuẫn với học tập cá thể hạn chế mức độ tích cực của mỗi cá nhân. Thực ra trong học tập hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm nhưng mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể, trong nhóm mỗi cá nhân đều phải nỗ lực không ỷ lại. Kết quả làm việc của từng nhóm được trình bày thảo luận trước lớp sẽ tạo một không khí thi đua giữa các nhòm, đóng góp tích cực vào kết quả chung của bài học. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự phân công hợp tác với tập thể cộng đồng. Trong xu hướng toàn cầu hóa xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia thì năng lực hợp tác thực sự trở thành một mục tiêu đào tạo giáo dục nhà trường. Việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học là một yêu cầu bức thiết đặt ra đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở tiểu học, nó phụ thuộc rất lớn vào sự đầu tư công sức, trí tuệ của người giáo viên trong việc chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dạy học cũng như sử dụng và khai thác chúng. Trò chơi học tập là một hoạt động vừa nhẹ nhàng lại hiệu quả vì các em vừa được chơi vừa là học bài.

e. Xuất phát từ thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập ở trường Tiểu học …………….. hiện nay.

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc khai thác và sử dụng trò chơi học tập của nhiều giáo viên mà thực tế bản thân cho thấy còn nhiều hạn chế, chưa thể hiện tính ưu việt của nó, do chưa đổi mới phương pháp dạy học một cách triệt để; chưa coi trọng hoạt động học tập của học sinh là trung tâm của quá trình dạy học cho nên việc sửa dụng trò chơi học tập chưa phát huy hết tác dụng. Nhiều giáo viên tổ chức trò chơi trong học tập chưa khoa học, nên nhiều học sinh chưa thực sự làm việc chỉ dựa vào thành quả hoạt động của bạn khác. Việc tổ chức của giáo viên còn mang nặng tính hình thức nên nhiều nhóm học sinh làm việc sai mục đích dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ được giao; các thành viên trong đội

chơi, trong lớp do tâm lý và thiếu tính tích cực nên dẫn đến mất đoàn kết. Nhiều học sinh còn bỡ ngỡ với hoạt động này, chưa mạnh giạn còn nể nang, tự ái cá nhân, chưa có ý thức tôn trọng ý kiến của bạn trong việc tham gia cho nên kết quả chưa đặt được yêu cầu đề ra. Một số trò chơi do giáo viên chuẩn bị chưa chu đáo nên tính chất của nó chỉ là vui mà nội dung học tập chưa cung cấp được là bao.

Xuất phát từ những lý do trên tôi đưa ra sáng kiến:

Kĩ năng tổ chức trò chơi học tập để dạy các môn học ở bậc Tiểu học”

I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

a. Mục tiêu:

Giúp cho các giáo viên có kĩ năng tốt nhất trong việc tổ chức các hoạt động trò chơi học tập để dạy học sinh trong các môn học, trong các bài học. Có kĩ năng tổ chức các hình thức trò chơi học tập cho phù hợp với từng nội dung, phân môn.

Giúp học sinh qua hoạt động học tập là trò chơi để tiếp thu và hiểu bài tốt nhất đồng thời cũng hình thành cho các em về: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạt động tương tác giữa các cá nhân trong lớp thông qua trò chơi. Đối với học sinh Tiểu học, vui chơi vẫn là nhân tố quan trọng trong hoạt động của học sinh. Với nhiều cách chơi khác nhau sẽ giúp học sinh “ học mà chơi, chơi mà học”. Học sinh thêm hứng thú học tập và tiếp thu bài tốt hơn. Vì thế cùng với các phương pháp khác, trò chơi học tập là phương pháp nhằm tích cực hoá đối tượng học sinh.

Trò chơi học tập là nhằm phát huy tính tích cực, tính chủ động, tính sáng tạo của học sinh trong học tập.

Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp học sinh phát triển toàn diện về: Đức – trí – thể mĩ.

b. Nhiệm vụ của đề tài:

Chỉ ra các kĩ năng trong việc tổ chức hoạt động dạy học trò chơi học tập. Nêu ra được ích lợi của việc tổ chứỏmtò chơi học tập và chi ra các tiến trình trong việc áp dụng thực tế tổ chức trò chơi học tập cho các bài dạy, môn dạy. Chỉ ra được tiến trình tổ chức trò chơi, cách chơi, các bước tiến hành. Chỉ ra trình tự của hoạt động trò chơi và chuẩn bị đồ dùng dạy-học cần thiết cho hoạt động này.

I.3. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là các em học sinh và giáo viên khối lớp 1 đến khối lớp 5 của trường Tiểu học ……………..,

I.4. Gới hạn phạm vi nghiên cứu:

– Chương trình các môn học từ lớp 1 đến lớp 5.

– Các môn học chương trình Tiểu học nói chung và phương pháp tổ chức trò chơi học tập ở từng môn nói riêng.

– Giáo viên và học sinh trường Tiểu học ……………..

I. 5. Phương pháp nghiên cứu:

Bằng phương pháp nghiên cứu lý luận như đọc các giáo trình có liên quan: Như sách giáo viên, chuyên đề giáo dục tiểu học, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo,…bằng phương pháp quan sát thông qua dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp. Bằng phương pháp điều tra tìm hiểu thực trạng việc khai thác và sử dụng trtò chơi học tập. Bằng phương pháp thống kê, so sánh số liệu. Bằng phương pháp thực nghiệm dạy một số tiết ở 5 lớp cho thấy việc tổ chức trò chơi học tập là rất cần thiết. Bằng phương pháp thử nghiệm. Thực tế các tiết dạy hiện nay cho thấy tiết học có tính căng thẳng giáo viên thì lo truyền thụ kiến thức, học sinh chăm chú để ghi nhớ kiến thức điều đó cho thấy kết thúc tiết học nhiều học sinh vẫn chưa hiểu bài, tiết học căng thẳng, khô cứng, kiến thức chưa được thực tế hoá nên nhớ bài không sâu.

II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:

II.1.Cơ sở lý luận:

a. Cơ sở về tâm lý, sinh lý của việc dạy học.

Đặc điểm sinh lí của trẻ em lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi là đi từ tư duy cụ thể tiến đến hình thành và phát triển tư duy trừu tượng, cho nên trong dạy học “trò chơi học tập” giúp các em chú ý đến trực quan, việc làm cụ thể. Đặc điểm tâm lý của học sinh ở lứa tuổi này là ham hiểu biết, ưa thích hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên cách dạy học phải khêu gợi tính tò mò, phải tránh đơn điệu về hình thức hoạt động, phải gợi mở được vấn đề, các em được tham gia, trải nghiệm, tuy chơi nhưng mà học.

Khi học tập học sinh sẽ sử dụng hết các giác quan như mắt, tai và các hoạt động của tay, miệng để tham gia vào việc học, do đó hình thức tổ chức dạy học mà hiệu quả nhất là thầy tổ chức-trò hoạt động. Học sinh ở lứa tuổi này thường hay có tính so sánh giữa bạn với mình, do đó cần tổ chức cho các em có cơ hội để khẳng định mình trong lớp bằng những việc làm cụ thể, để các em tự đánh giá cho mình cho bạn từ đó phấn đấu để bằng bạn, phấn đấu để giữ danh hiệu trong nhóm- trong lớp, vì thế phương pháp dạy học phải linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng học sinh, chính các em sẽ đánh giá kết quả học tập của mình thông qua hoạt động nhận xét cho bạn sau mỗi hoạt động học tập.

b. Cơ sở về quan hệ hợp tác trong xã hội.

Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự phân công hợp tác với tập thể cộng đồng. Việc tổ chức dạy học trò chơi học tập nó rèn luyện tính tự chủ và sáng tạo của học sinh có những hoạt động học sinh tự làm giáo viên không cần can thiệp trực tiếp vào. Tạo ra cơ hội để học sinh hoà nhập với cộng đồng: Học sinh tập lắng nghe ý kiến của người khác, tập thể hiện quan điểm của chính mình. Tạo điều kiện để học sinh phát huy hết khả năng của mình theo hướng phân hoá trong dạy học, có những nhiệm vụ lại nhiều nhiệm vụ nhỏ cần phân chia mỗi người làm một việc nhỏ theo một dây truyền hoàn hảo để rồi hoàn thành một nhiệm vụ chung. Giúp các em biết được có những nhiệm vụ cần có sự hợp tác của nhiều người, đó là tinh thần đoàn kết, đó là sự cần thiết phải có sự giúp đỡ của những người xung quanh, từ đó tạo vốn kĩ năng sống cho các em là trong gia đình cũng như trong xã hội đôi lúc cần có sự đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc. Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập quốc tế vì vậy hợp tác quốc tế là vấn đề tất yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường; các em là những chủ nhân của nước nhà trong tương lai, vì thế trong trường học cần tạo và hình thành cho các em thói quen, kĩ năng trong việc “quan hệ hợp tác” với đối tác để hoàn thành nhiệm vụ chung. Từ các hoạt động tưởng chừng là vui chơi nhưng nó lại mang lại những thông điệp về tri thức, giá trị nghệ thuật cao, chơi chỉ là phương tiện để đạt được mục đích khác.

c. Cơ sở về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học.

Trong định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, độc lập của học sinh để giúp cho học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề của bài học, để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức và biết vận dụng chúng là một trong những nội dung cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình học.

Trước đây trong dạy học chúng ta chỉ chú ý đến truyền thụ trí thức thuần túy. Việc tổ chức trò chơi học tập cho phép các cá nhân trong lớp cùng thảo luận, nghiên cứu, chia sẻ những băn khoăn, suy nghĩ, kinh nghiệm của mình, cùng nhau xây dựng nhận thức mới về các nội dung môn học. Khi hoạt động trong việc chơi, mỗi cá nhân có thể hiểu rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy được điều mình cần phải học hỏi thêm về các nội dung của bài học.

d. Cơ sở về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

Để thực hiện tốt các nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn hiện nay.

Hoạt động trò chơi học tập góp phần lớn vào hình thành các kĩ năng sống cho các em, rèn luyện về đạo đức, ý thức trách nhiệm giúp các em trở thành con người ngày càng hoàn thiện hơn. Thực chất là giúp các em tiếp cận các kĩ năng sống trong việc học đó là: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống.

II.2. Thực trạng.

a. Thuận lợi-khó khăn.

a.1. Thuận lợi:

Trường …………….. hiện nay đã tổ chức học hai buổi trên ngày, có đủ bàn ghế cho học sinh ngồi học, có đủ đồ dùng học tập, học sinh đều có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập của các môn do được cấp phát trả tiền theo Nghị định 49 của Chính phủ. Đa số học sinh ngoan, lễ phép, kính thầy, mến bạn, ham học tập và thích tham gia các hoạt động ngoại khoá. Các môn học như Âm nhạc, Thể dục, Mĩ thuật, Kĩ thuật, Anh văn, Tin học đã có giáo viên bộ môn dạy. Trường đã có thư viện có đủ sách, tài liệu tham khảo và truyện cho học sinh và giáo viên tham khảo; đồ dùng dạy học cơ bản có đầy đủ, có khuôn viên, sân chơi bãi tập rộng.

Hệ thống các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào đã tạo điều kiện cho giáo viên chủ động đề xuất giảng dạy đảm bảo theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã góp phần tạo điều kiện cho giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học theo nhóm nhằm đổi mới phương pháp như:

-Công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 03 tháng 02 năm 2006 “V/v Hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinh tiểu học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ nhiệm vụ chính của việc điều chỉnh nội dung dạy học là nhằm đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên và điều chỉnh một số nội dung học tập của học sinh. Các nhà trường chủ động cụ thể hoá phân phối chương trình học tập của học sinh phù hợp với từng lớp học cụ thể, đảm bảo yêu cầu giáo dục học sinh tiểu học và yêu cầu nhiệm vụ quy định trong chương trình Tiểu học.

-Công văn 9832/BGDĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 “V/v Hướng dẫn thực hiện chương trình các lớp 1, 2, 3, 4, 5” của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tổ trưởng chuyên môn cùng với giáo viên đề xuất với Hiệu trưởng quyết định thời lượng dạy học từng bài học, môn học trong tuần cho phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh và hoàn cảnh địa phương nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã quy định.

-Công văn 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 “V/v Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT” có nêu điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng cắt giảm các nội dung quá khó, trùng lặp để giáo viên và học sinh dành thời gian cho các nội dung khác, tạo thêm điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông.

a.2. Khó khăn:

Học sinh trường Tiểu học …………….. chủ yếu là con em dân tộc thiểu số chiếm 86,8%, hầu hết gia đình các em đều làm nông nghiệp, ngoài việc học ở trường các em còn giúp gia đình làm việc nhà; mặt bằng dân trí thấp, học sinh con gia đình thuộc hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao, trường có nhiều phân hiệu cách xa nhau, cơ sở vật chất trường học còn yếu và thiếu, học sinh hiện nay mới học 2 buổi trên ngày. Nhiều cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học của con cái mà phó mặc cho nhà trường, ở nhà còn bắt các em làm việc nên không có thời gian học bài ở nhà.

Học sinh trường tiểu hoc …………….., các em còn học thiên về các môn chính, học lực khá giỏi trong trường còn rất ít. Nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, kinh tế eo hẹp, ở nhà chưa có góc học tập nên việc học bài ở nhà rất ít. Độ tuổi học sinh trong một lớp không đồng đều. Nhiều học sinh chưa ham học, thiếu tập trung học tập, một số học sinh tiếp thu bài chậm. Nhiều em chưa mạnh dạn và chưa tự tin trong học tập. Trang thiết bị như máy chiếu, tivi, đầu đĩa, …trang bị cho các lớp học là chưa có.

II.3. Giải pháp, biện pháp :

a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:

Giúp cho các giáo viên có kĩ năng tốt nhất trong việc tổ chức hoạt động dạy học có tổ chức trò chơi học tập để dạy học sinh trong các môn học và trong các bài học như bài cung cấp kiến thức mới, bài tập, luyện tập thực hành.

Giúp học sinh qua hoạt động học tập dạng trò chơi để tiếp thu và hiểu bài tốt nhất đồng thời cũng hình thành cho các em về: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạt động tương tác giữa các cá nhân trong lớp. Kỹ năng trao đổi thông tin, trình bày và tiếp nhận thông tin, tìm kiếm thông tin. Kỹ năng làm việc có trách nhiệm trong môi trường hợp tác. Khả năng phối hợp với người khác để cùng hoàn thành công việc. Giúp các em học sinh thấy vui trong học tập, rèn tính nhanh nhẹn, cởi mở, tiếp thu bài một cách tự giác, củng cố kiến thức một cách có hệ thống, tăng cường sự giao tiếp trong lớp. Có thái độ về ý thức hợp tác trong công việc, tự chịu trách nhiệm trong mỗi trò chơi, tôn trọng thành quả lao động của người khác, cùng người khác hướng tới một mục đích hoạt động chung, niềm vui cũng là niềm vui chung, thất bại cũng là của chung để từ đó biết đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Giúp cho Ban giám hiệu và các giáo viên trong trường nhận thấy được giá trị thực sự của việc cần có kĩ năng trong việc tổ chức trò chơi học tập để dạy các môn học, bài học; đồng thời làm cho các em học sinh thấy hoạt động học tập dạng trò chơi là hoạt động mà ở đó các em phát huy được hết tính tích cực, chủ động sáng tạo, độc lập của mình, học tập thích hơn, hiểu bài sâu hơn, nhớ lâu hơn và vui hơn.

b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

Đối với học sinh Tiểu học, vui chơi vẫn là nhân tố quan trọng trong hoạt động của học sinh. Với nhiều cách chơi khác nhau sẽ giúp học sinh “ học mà chơi, chơi mà học”. Học sinh thêm hứng thú học tập và tiếp thu bài tốt hơn. Vì thế cùng với các phương pháp khác, trò chơi học tập là phương pháp nhằm tích cực hoá đối tượng học sinh.

Vậy giải pháp “ Kĩ năng tổ chức trò chơi học tập để dạy các môn học ở bậc Tiểu học” là tổ chức hoạt động dạy-học ở đó có sự tác động qua lại, hỗ trợ về kiến thức giữa thầy-trò, trò-trò, trò-thầy cụ thể là:

b.1. Thế nào là trò chơi học tập.

Là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh, thông qua trò chơi giúp học sinh chiễm lĩnh tri thức mới hoặc củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng.

b.2. Việc tổ chức trò chơi học tập góp phần hình thành và phát triển năng lực cho học sinh về:

– Kỹ năng:

Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạt động tương tác giữa các cá nhân trong một đội chơi.

Kỹ năng trao đổi thông tin, trình bày và tiếp nhận thông tin.

Kỹ năng tìm kiếm thông tin.

Kỹ năng làm việc có trách nhiệm trong môi trường hợp tác.

Khả năng phối hợp với người khác để cùng hoàn thành công việc.

Biết kết hợp sử dụng thành quả của người khác để hoàn thành công việc của mình. Có ý thức và có khả năng tổ chức người khác cùng hợp tác làm việc.

– Thái độ:

* Ý thức hợp tác trong công việc.

* Ý thức tự chịu trách nhiệm trong nhóm.

* Ý thức tôn trọng thành quả lao động của người khác.

* Ý thức cùng người khác hướng tới một mục đích hoạt động chung.

b.3. Ích lợi của việc tổ chức trò chơi học tập:

Trò chơi sẽ làm thay đổi không khí học tập của lớp, làm cho không khí trở nên dễ chịu, thoải mái hơn. Học sinh sẽ thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái và khoẻ hơn sau một quá trình tập trung cao vào việc tiếp nhận kiến thức.

Bên cạnh đó trò chơi học tập còn tạo cho các em khả năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết, giao lưu trong tổ, lớp tạo tính chủ động, tự tin, mạnh dạn, sáng tạo cho các em. Mặt khác trò chơi học tập là con đường thuận lợi để học sinh khắc sâu kiến thức khi học.

Như vậy, trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp học sinh phát triển toàn diện về: Đức, trí, thể, mĩ.

b.4. Các dạng trò chơi học tập.

Có nhiều dạngỏtò chơi học tập, việc lựa chọn các dạng chơi học tập cho một bài cụ thể phụ thuộc vào mục tiêu nội dung bài.

-Trò chơi vận động đó là nhóm trò chơi yêu cầu học sinh tham gia phải vận động cơ thể để hoàn thành trò chơi.

-Trò chơi cá nhân đó là trò chơi cho từng em tham gia.

-Trò chơi tập thể đó là trò chơi cần nhiều người tham gia mới hoàn thành.

b.5. Phương tiện để tổ chức trò chơi học tập có hiệu quả.

– Địa điểm: Cần đủ không gian làm việc cho mỗi nhóm. Đủ các trang thiết bị cần thiết cho mỗi nhóm: như bàn làm việc, đồ dùng học tập để thực hiện nhiệm vụ được giao, các vật liệu trình diễn như bảng, phấn màu các loại, bút màu, giấy,…

– Các dụng cụ để hoạt động phù hợp môn học và hoạt động nhóm, các mô hình, các dụng cụ thí nghiệm, các dụng cụ học môn toán như phiếu học tập, tranh vẽ, thước, giấy nháp,…

– Bàn nghế phải tiện cho việc bố trí các nhóm học tập.

– Các phương tiện hiện đại như máy tính, máy chiếu, băng hình,…

b.6. Đánh giá trong việc tổ chức trò chơi.

– Đánh giá cho điểm cả nhóm: Điểm của mỗi cá nhân được nhận bằng điểm của nhóm.

– Đánh giá từng cá nhân: Giáo viên theo dõi hoạt động của từng cá nhân và nhận xét đánh giá cho từng cá nhân.

– Tự đánh giá: Mỗi nhóm chơi tự đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của nhóm mình và lượng hóa bằng điểm. Mỗi cá nhân dựa vào việc hoàn thành nhiệm vụ của mình để xác định điểm nhưng không vượt quá điểm của nhóm chơi.

b.8. Quy trình xây dựng và thiết kế trò chơi

Bước 1: Chuẩn bị trò chơi

-Nghiên cứu tài liệu: Chương trình, sách giáo khoa, chuẩn KTKN (tài liệu HD học tập)… Hệ thống sách tham khảo: sách báo, tạp chí giáo dục…

Nghiên cứu thực tế lớp học: xem có học sinh khuyết tật không, nhu cầu, sở thích, hoàn cảnh …Tìm hiểu xem học sinh lớp yếu ở mạch kiến thức nào, để lựa chọn trò chơi cho phù hợp, giúp các em củng cố kiến thức để hiểu bài một cách chắc chắn.

Bước 2 : Lựa chọn trò chơi:

Việc lựa chọn các trò chơi học tập phải đáp ứng những yêu cầu của mục đích dạy học.Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ học tập tương ứng với nội dung dạy học. Mỗi trò chơi cần có một vị trí đóng góp cụ thể trong tiến trình thực hiện mục đích dạy học. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy học bộ môn hệ thống các trò chơi phải được lựa chọn sao cho đa dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi. Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt (thay số bằng chữ, câu cá- mèo bắt chuột, tìm hoa hái quả- cánh hoa tìm nhụy, …) từ sự thay thế linh hoạt tạo cho giáo viên có cơ hội tổ chức trò chơi phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Để từ đó các em cảm thấy : “Học mà vui, vui mà học”. Lựa chọn trò chơi phải đảm bảo các yếu tố: lứa tuổi, vừa sức; áp dụng vào khi nào trong tiến trình bài dạy và trong chương trình học.

+ Có thể trò chơi trước khi kết thúc tiết học. Cách này có ưu điểm là kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh, giờ học tránh được không khí suy nghĩ căng thẳng trở thành “ Vui mà học, học mà chơi” hết sức sinh động.

+ Có thể trò chơi sau khi hoàn thành một chương. Với cách này sẽ giúp cho học sinh hệ thống lại kiến thức một cách sinh động và hiệu quả.

Bước 3: Xây dựng và thiết kế trò chơi

-Thiết kế trò chơi học tập thường qua các bước như sau:

+ Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào?

+ Đồ dùng phục vụ trò chơi

+ Nêu luật chơi

+ Số người tham gia

+ Nêu cách chơi, cách tính điểm

+ Thời gian chơi

Bước 4 : Cách tiến hành trò chơi

– Giới thiệu trò chơi, hướng dẫn cách chơi, phổ biến luật chơi.

– Chơi thử (nếu cần).

– Chơi thật.

– Nhận xét, rút kinh nghiệm và tổng kết trò chơi.

Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.

– Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội thắng (nếu có).

– Một HS hoặc GV nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện.

b.9. Kĩ năng tổ chức hoạt động trò chơi học tập để thiết kế dạy các môn học cụ thể.

◈. Giải pháp:

Trong trường Tiểu học hiện nay các môn học bắt buộc có chín môn và hai môn học tự chon (Tin học, Tiếng Anh) thì đều áp dụng tổ chức hoạt động trò chơi học tập được cả, nhưng giáo viên cần lựa chọn và xem xét xem bài nào, phần nào của bài mà tổ chức hoạt độngỏtò chơi học tập để đem lại hiệu quả cao hơn các phương pháp khác thì mới nên làm chứ không nên làm tràn lan không hiệu quả.

Giáo viên phải nắm chắc nội dung của giải pháp nói trên và cách tiến hành giải pháp để vận dụng đúng lúc đúng chỗ. Cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, chú ý tới yếu tố cơ sở vật chất, không gian phòng học, đồ dùng dạy-học và đối tượng học sinh trong lớp.

◈. Biện pháp:

Cần có các biện pháp linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo cách thức hoạt động trò chơi học tập như: Tổ chức thành các trò chơi học tập; đóng kịch; cuộc thi; sưu tầm; biểu diễn; hái hoa dân chủ;…Có thể tổ chức trong lớp học hoặc tổ chức ngoài trời, ngoài sân tuỳ thuộc vào yêu cầu của môn học-bài học; có những bài học có thể cần hoá trang, chuẩn bị phương tiện như loa máy, đèn chiếu, dụng cụ để vẽ,…thì cần có đồ dung trực quan mang tính chính xác và khoa học đừng nên méo mó sẽ gây hiểu sai về nhân vật, về vấn đề cần đạt được. Quy định thành viên nam nữ trong đội chơi, yêu cầu nhanh, chính xác hay yêu cầu đúng, đẹp, an toàn, đều vui tươi, mỗi người chỉ được một lần, yêu cầu về giọng nói, trang phục, …

Ví dụ: Để củng cố bảng nhân 2 cho học sinh lớp 2

Tên trò chơi: “Tiếp sức”

Mục tiêu: Rèn kỹ năng ghi nhớ bẳng nhân lớp 2

Thời gian: Khoảng 2 phút.

Chuẩn bị: Giáo viên viết lên bảng một sơ đồ phép tính.

2 1 = 2 2 =

2 3 = 2 4 =

2 5 = 2 8 =

2 6 = 2 7 =

2 9 = 2 10 =

Cách chơi: Chia làm hai đội chơi; mỗi đội 5 em; mỗi em được lên làm 1 lần đội náo làm đúng và nhanh hơn đội đó chiến thắng.

b.9.1. Dạy thực hành ngay sau bài mới.

Ngay sau khi nhận biết kiến thức mới học các em rất hứng thú vì thế giáo viên tạo điều kiện cho học sinh củng cố và tập vận dụng kiến thức mới học ngay sau khi học bài mới để các em bước đầu chiếm lĩnh kiến thức mới ngay ở lớp. Trong sách giáo khoa cấp Tiểu học sau phần bài học thường có bài tập để tạo điều kiện cho học sinh củng cố kiến thức mới học qua thực hành và bước đầu tập vận dụng kiến thức mới lĩnh hội để giải quyết các vấn đề cụ thể.

– Dựa vào mục tiêu của từng bài cụ thể để áp dụng phương pháp cho phù hợp vào việc tổ chức hướng dẫn học sinh thực hành, luyện tập có hiệu quả.

Ví dụ: Sau khi học sinh lớp 1 học xong tiết 1 bài 13 âm n m để củng cố kiến thức vừa học giáo viên cho các em chơi trò chơi “Ai nhanh hơn”, phát cho các nhóm 1 hộp có nhiều thẻ chữ chứa các tiếng khác nhau. Yêu cầu các nhóm tìm các thẻ chữ chứa tiếng có âm n, m rồi gắn vào bảng cài trong 3 phút chẳng hạn. Có thể chia nhóm chơi theo bàn ngồi, các nhóm nhận xét cho nhau, rồi giáo viên kết luận, ghi điểm cho các nhóm. Vì thảo luận để các em hỗ trợ, kiểm tra lẫn nhau, đồng thời tự khẳng định củng cố lại kiến thức.

b.9.2. Dạy bài thực hành rèn kỹ năng (luyện tập, luyện tập chung, ôn tập).

Ngoài phần luyện tập thực hành trong các tiết dạy học bài mới thì có tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập.

Mục tiêu chung của dạy học các bài luyện tập thực hành là củng cố kiến thức học sinh mới chiếm lĩnh được. Còn đối với bài luyện tập rèn kỹ năng thì giúp học

sinh nhận ra kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập dạng khó hơn.

Ví dụ: Ôn tập về các vần cho học sinh lớp 1 giáo viên cho các em chơi trò chơi “chiếc nó kì diệu” trên chiếc nón là các vần kèm theo dấu thanh, mũi tên là phụ âm đầu. Luật chơi là các em quay chiếc non khi chiếc nón dừng lại mũi tên chỉ vào vần nào thì các em ghép phụ âm đầu ở mũi tên với vần đó đọc thành tiếng là thắng cuộc.

c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp.

-Ưu điểm của hoạt động trò chơi học tập.

Tổ chức dạy học theo nhóm là một hình thức dạy học mới. Đó là một trong những hình thức thực hiện tốt việc dạy học phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh với hình thức này học sinh được hấp dẫn, lôi cuốn vào các hoạt động học, thu lượm kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự giúp đỡ hướng dẫn sư phạm của giáo viên.

– Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức kỹ năng mà các em được lĩnh hội và rèn luyện.

Học sinh thấy vui, nhanh nhẹn, cởi mở.

Học sinh tiếp thu tự giác.

Học sinh được củng cố và hệ thống hóa kiến thức. Tăng cường khả năng giao tiếp.

Trò chơi sẽ làm thay đổi không khí học tập của lớp, làm cho không khí trở nên dễ chịu, thoải mái hơn. Học sinh sẽ thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái và khoẻ hơn sau một quá trình tập trung cao vào việc tiếp nhận kiến thức.

Bên cạnh đó trò chơi học tập còn tạo cho các em khả năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết, giao lưu trong tổ, lớp tạo tính chủ động, tự tin, mạnh dạn, sáng tạo cho các em.

Mặt khác trò chơi học tập là con đường thuận lợi để học sinh khắc sâu kiến thức khi học.

– Giúp các em nhút nhát, khả năng diễn đặt kém có điều kiện rèn luyện.

– Khi tổ chức trò chơi học tập giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự sự sáng tạo của học sinh trong học tập.

– Những điều kiện khi thực hiện hoạt động dạy học này là:

– Để tổ chức trò chơi học tập đặt kết quả cần chú ý tâm lý lực học của học sinh để lựa chon trò chơi cho phù hợp. Trò chơi không quá khó vượt qua tầm suy nghĩ của các em, tôn trọng ý kiến của mỗi em, nhất thiết giáo viên phải tổng kết trước lớp những gì các nhóm chơi đã đạt được. Động viên và khuyến khích các nhóm kịp thời. Trò chơi phải dễ chơi gây hứng thú và thu hút được nhiều người chơi.

-Cần đủ không gian làm việc cho trò chơi.

-Bàn nghế phải tiện cho việc bố trí các trò chơi học tập.

-Các phương tiện hiện đại như máy tính, máy chiếu, màn hình ti vi, băng hình,…nếu có thì rất tốt cho hoạt động này.

-Giáo viên cần có sự chuẩn bị bài dạy kĩ càng, dự kiến trước các tình huống sẽ xẩy ra, chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học và các vật liệu hỗ trợ hoạt động học tập của học sinh như phiếu học tập, bút lông, bảng cài, bông hoa,…

d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.

Mối quan hệ giữa giải pháp và biện pháp là mối quan hệ biện chứng, tương trợ qua lại lẫn nhau. Để tổ chức hoạt độnởitò chơi học tập tốt thì người giáo viên cần có giải pháp tốt, phù hợp cho hoạt động dạy và tổ chức dạy của bài học đó, nhưng để thực hiện thành công giải pháp đã đề ra thì cần có biện pháp cụ thể cho giáo viên và học sinh trong từng hoạt động cụ thể. Mỗi môn học bài học với giải pháp là tổ chức trò chơi học tập thì cần có biện pháp phù hợp như quy định về thành viên, yêu cầu giữ trật tự trong khi thực hiện, quy định thành viên nam nữ, yêu cầu nhanh, chính xác hay yêu cầu đúng, đẹp, an toàn, đều vui tươi, mỗi người chỉ được một lần,…

Có thể thực hiện tốt giải pháp bằng biện pháp tổ chức thành các trò chơi học tập; đóng kịch; cuộc thi; sưu tầm; biểu diễn; hái hoa dân chủ;…Có thể tổ chức trong lớp học hoặc tổ chức ngoài trời, ngoài sân tuỳ thuộc vào yêu cầu của môn học-bài

học; có những bài học có thể cần hoá trang, chuẩn bị phương tiện như loa máy, đèn chiếu, dụng cụ để vẽ,…Nếu không có biện pháp kèm theo thì một số học sinh sẽ ỉ lại cho các bạn trong nhóm hay tham gia mang tính miễn cưỡng, tuy nhiện biện pháp cũng nên mềm mỏng động viên, khích lệ là chính; để cho học sinh tập trung cao vào hoạt động giáo viên có thể đưa ra biện pháp nhóm nào xong trước nhất, trình bày đẹp, mà chính xác sẽ được cộng thêm điểm,…có thể nói biện pháp là để hỗ trợ thực hiện giải pháp tốt hơn.

Để thực hiện tốt giải pháp tổ chức trò chơi học tập thì giáo viên cần nắm rõ kĩ năng tổ chức hoạt động trò chơi, nắm rõ quy trình thực hiện và thực hiện khi nào, lúc nào, bài nào là có hiệu quả nhất chứ không nên lạm dụng phương pháp này mà không có kĩ năng thì nó sẽ không có lợi.

Một vấn đề nữa để thực hiện tốt đề tài này thì cần có biện pháp chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường đứng đầu là Hiệu trưởng nhà trường, chuyên môn và khối trưởng các khối trong sinh hoạt chuyên môn và chuyên đề, cần có đánh giá về chuyên môn và nêu gương những giáo viên có kĩ năng sư phạm tốt (kĩ năng dạy học) để cho đồng nghiệp dự giờ tham khảo học hỏi kĩ năng trong đơn vị.

e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

Qua việc giảng dạy và nghiên cứu về hoạt động tổ chức hoạt động trò chơi học tập vào các tiết dạy đối với học sinh trong khối 1 tại bốn điểm trường khác nhau và lớp 2, 3, 4, 5 ở điểm chính đồng thời tiếp thu ý kiến phản hồi của đồng nghiệp trong trường cho thấy lúc đầu do chưa có kĩ năng thành thạo nên tiết dạy của giáo viên bị kéo dài hơn do có những tình huống phát sinh, bao quát, phổ biến luật chơi, cách chơi, chơi thử cũng mất nhiều thời gian chi phối. Học sinh thì còn rụt rè, bỡ ngỡ nên hoà nhập chậm, còn nể nang chia bè phái nam nữ trong khi chơi, đùn đẩy nhau làm quản trò. Nói chung là gặp nhiều khó khăn; nhưng vì biết trước ích lợi của việc tổ chức trò chơi học tập nó làm cho tiết học không bị gò bó, học sinh học tập sôi nổi hơn, tiếp thu bài một cách chủ động hơn, nên bản thân tôi và một số đồng nghiệp lại càng hăng hái hơn, cứ thế thời gian trôi đi thì kĩ năng của thầy và trò trong vến đề này đã được cải thiện rõ rệt, kết quả thu được nâng lên. Có thể dẫn chứng như ở lớp tôi đang dạy, so sánh số liệu theo dõi trong tháng 4 của năm học này về môn Toán như:

……………

Quá trình tổ chức hoạt động dạy học đưa trò chơi học tập vào nó cũng góp phần giúp cho người dạy chủ động hơn các tình huống, chuẩn bị bài kĩ hơn, tự tin hơn, tác phong điều khiển chuyên nghiệp hơn, tổ chức kỉ luật chặt chẽ hơn, sự hợp tác giữa người học và người dạy luôn luôn được củng cố.

Từ vấn đề trên tôi cho rằng giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu là giúp cho bản thân tiến bộ hơn, có kĩ năng, kĩ xảo trong việc tổ chức dạy học tích cực cho học sinh, làm cho học sinh và đồng nghiệp quý mến và kính trọng hơn. Quan hệ thầy-trò, tró-thầy, trò-trò trở nên gần gũi hơn, giúp các em mạnh giạn hơn có thêm nhiều kĩ năng sông, kĩ năng học tập; rèn thêm cho các em có nhiều đức tính tốt, giảm bớt thời lượng học bài cũ hơn vì các em ra lớp là hiểu bài sâu hơn, kết thúc tiết học vui tươi hơn.

II.4 . Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của đề tài nghiên cứu.

Thực tế hiện tôi đang dạy lớp 4c4 tại phân hiệu Tam Hoà chỉ có 18 học sinh là học sinh dân tộc Tày và Nùng con gia đình nông thôn ở vùng sâu, vùng khó khăn. Số em có hoàn cảnh khó khăn và hộ nghèo trong lớp là 9 em (50%), đúng độ tuổi trong lớp chỉ có 5 em (27,8%), nguy cơ bỏ học của 3 em là rất cao, nhà cách xa trường, gia đình nhiều phụ huynh chỉ học hết lớp 2 hoặc 3 và mù chữ nhiều, có nhiều tập quán lạc hậu, chất lượng theo khảo sát đầu năm là rất yếu; nhiều em nói Tiếng Việt chưa rõ, chưa nghe viết chính tả thành thạo được, kĩ năng làm toán bị hổng kiến thức,… nhưng từ khi tôi tiếp nhận đầu năm đến giờ thì bỏ học đã

không xẩy ra. Chất lượng hai mặt giáo dục trong học kì I vừa rồi cho thấy hạnh kiểm thực hiện đầy đủ là 100%, học sinh khá và giỏi 12 em (66,7%) còn lại là trung bình không có học sinh yếu.

Qua việc giảng dạy giờ học theo các quy trình trên, dự giờ của đồng nghiệp và dạy thử các lớp có trình độ khác nhau (lớp 1, 2, 3, 5) sau một thời gian học tập và rèn luyện, chất lượng học sinh lớp tôi dạy đã được nâng cao rõ rệt. Tôi tự nhận thấy mình đã tìm được hướng đi đúng, cách làm phù hợp cho việc nâng cao chất

lượng giảng dạy các môn học, không có hiện tượng học lệch, môn chính, môn phụ nữa. Tôi thấy mỗi giờ dạy bản thân mình cũng tạo được sự say mê, hứng thú trong việc rèn cho các em học. Cho nên tiết học bây giờ trở nên nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn so với trước.

Tôi đã mạnh giạn thực hiện kinh nghiệm của mình trong các giờ học nói chung và học phân môn nói riêng, khi tổ chức theo hoạt động này nhiều em không hiểu và ỷ lại cho các bạn. Nhưng dần dần các em lai rất thích tổ chức học tập theo phương pháp này, ngày cang mạnh dạn hơn, trong giờ học trở nên vui vẻ hơn ít căng thẳng, hạn chế được điểm yếu thay vào đó là những điểm khá và giỏi.

Học sinh được làm việc nhiều hơn, không khí học tập sôi nổi và hứng thú hơn, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Các nhóm làm việc nghiêm túc thảo luận sôi nổi, chuyên nghiệp hơn, góp ý trao đổi rành mạch tôn trọng và giúp đỡ nhau thực sự, quản trò và các thành viên trong nhóm chơi làm việc tích cực. Học sinh khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mới trong quá trình thảo luận giải quyết vấn đề theo nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh tiếp thu bài khá tốt.

Tuy nhiên trong trường vẫn chưa được nhiều giáo viên thực hiện như tôi mong muốn, nhưng bước đầu nó đã đem lại niềm vui cho tôi và các em học sinh mà tôi trực tiếp dạy; nhưng tôi tin tưởng rằng nếu áp dụng sáng kiến này vào việc dạy và học các môn học nói chung và phần môn cụ thể nói riêng thi chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên.

III. PHẦN KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ

III.1. Kết luận:

Kĩ năng tổ chức dạy học đưa trò chơi học tập vào bài dạy là một hình thức dạy học tiến bộ, nó giúp ích cho học sinh rất nhiều, cần được tổ chức rộng rại trong các trường học, nhưng nó đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp và cách thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng nội dung, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Để tổ chức dạy có đưa trò chơi học tập thành công đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp với trò chơi và thiết kế được các hoạt động giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất. Khi tổ chức dạy học theo cách thức tổ chức này thì việcquản lý trò chơi, điều hành trò chơi cũng là yếu tố rất quan trọng, đảm bảo

trong lớp em nào cũng được chơi mà thực chất là học tập. Bên cạnh đó thi yếu tố cơ sở vật chất phòng học cũng như đồ dùng học tập, tài liệu liên quan cũng rất qua trọng.

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, bản thân người giáo viên cần tự học hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình trong đó có phương pháp, kĩ năng tổ chức các trò chơi học tập. Không những thế người giáo viên cần phải tâm huyết với nghề nghiệp, không ngừng tìm tòi sáng tạo, tự nghiên cứu, khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất. Một điều quan trọng nữa là giáo viên cần có đức tính kiên trì, không nóng vội, biết nghi chép rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy.

Phương pháp này áp dụng được cho tất cả các môn học ở bậc tiểu học, trong các bài cung cấp kiến thức mới, luyện tập thực hành, ôn tập rèn kỹ năng. Tổ chức hoạt động dạy-học bằng trò chơi học tập nó còn rèn cho học sinh các kĩ năng cơ bản như nghe, nhìn, đọc, viết, tính toán, kĩ năng sống, kí năng học tập, biết đoàn kết, tương trợ, hợp tác lẫn nhau, có những đức tính tốt cần thiết cho bản thân và xã hội.

Như vậy tổ chức hoạt động dạy học có lồng ghép trò chơi học tập đúng mục đích là một yếu tố góp một phần quan trọng trong việc quyết định chất lượng giờ dạy nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung trong các nhà trường Tiểu học trong giai đoạn hiện nay.

III.2. Kiến nghị:

Nhà trường cần trang bị cơ sở vật chất phòng học tốt hơn như bàn ghế học sinh cho tiện khi tổ chức hoạt động nhóm chơi mang tính cơ động hơn. Trạng bị về máy chiếu, ti vi và đầu đĩa để mở băng hình khi cần thiết. Các đồng chí giáo viên cần xem xét kĩ trước khi tổ chức hoạt động trò chơi học tập, nhất là sự chuẩn bị về đồ dùng học tập khi tổ chức theo hoạt động này. Ban giám hiệu cần có sự chỉ đạo trong việc thực hiện triển khai kĩ năng tổ chức hoạt động dạy học thông qua trò chơi học tập này. Cho áp dụng đề tài đồng thời triển khai nhân rộng trong toàn trường và các môn học, hoạt động học tập, vui chơi. Khuyến khích những giáo viên có những sáng kiến kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy, tổ chức các tiết hội giảng, thao giảng, các cuộc họp chuyên đề để giáo viên tham khảo học hỏi lẫn nhau trong lĩnh vực chuyên môn.

Trên đây là một sáng kiến nhỏ mà tôi đã áp dụng để dạy ở lớp 4C4, 1A4, 2B4, 3B4; 5c1. Do không có nhiều thời gian nghiên cứu và trình độ, kinh nghiệm còn hạn chế nên những vấn đề nêu trên không khỏi có sai sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành của Ban giám hiệu nhà trường, Hội đồng xét SKKN, các bạn đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học ngày càng tốt hơn./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÊN TÀI LIỆU THAM KHẢO

NƠI PHÁT HÀNH

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học chu kì III tập 1.

Nhà xuất bản giáo dục

Chuyên đề giáo dục tiểu học tập 34/2008

Nhà xuất bản giáo dục

Sách giáo khoa một số môn ở Tiểu học

Nhà xuất bản giáo dục

Sách giáo viên một số môn ở Tiểu học

Nhà xuất bản giáo dục

Tài liệu dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Dự án Giáo dục tiểu học cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn PEDC

Các văn bản 896/BGD&ĐT-GDTH; 9832/BGDĐT-GDTH; 5842/BGDĐT-VP;

Bộ BGD&ĐT