Sáng kiến kinh nghiệm – Nâng cao chất lượng học môn toán

Nâng cao chất lượng dạy học môn toán

PHẦN MỞ ĐẦU.

  1. Lý do chọn đề tài.

Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, phương pháp suy nghỉ, phương pháp giải quyết có vấn đề. Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghỉ độc lập, linh hoạt sáng tạo và đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết, quan trọng của người lao động như : cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.

Qua khảo sát chất lượng đầu năm của lớp 4 B cho thấy: học sinh yếu kém môn toán là khá cao. Song làm thế nào để không còn học sinh yếu kém, không còn học sinh bỏ học vì không đuổi kịp kiến thức lại là một bài Toán hết sức nan giải. Tôi trăn trở là tìm ra con đường để vực dậy số học sinh yếu kém giúp các em theo kịp với chương trình để từng bước xoá bỏ tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng.

Năm học …… tôi đã được phân công chủ nhiệm lớp 4B với tổng số là 24 học sinh, trong đó học sinh dân tộc Êđê là 10 em .

Điều đó đã thôi thúc tôi tìm tòi, nghiên cứu viết nên sáng kiến kinh nghiệm này để đưa ra những giải pháp tốt nhất giúp các em có kiến thức cơ bản về môn Toán để theo kịp chương trình làm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức ở các lớp sau.

2 .Mục tiêu , nhiệm vụ của đề tài.

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp bốn tôi muốn đưa ra “Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn toán “. Với mong muốn được học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, làm thế nào cho học sinh học toán đạt hiệu quả cao.

Người giáo viên cần nắm được mục tiêu của môn toán ở tiểu học là nhằm giúp học sinh :

-Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên , phân số , các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học , thống kê đơn giản .

-Hình thành và rèn kỹ năng thực hành tính đo lường , giải bài toán có nhiều ứng dụng thực tế trong cuộc sống .

-Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa , khái quát hóa , kích thích trí tưởng tượng , gây hứng thú học tập toán , phát triển hợp lý khả năng suy luận và diễn đạt đúng ( bằng lời , bằng viết các suy luận đơn giản , góp phần rèn luyện phương pháp học tập làm việc khoa học linh hoạt sáng tạo ) .

-Ngoài ra môn toán góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất đạo đức của người lao động trong xã hội hiện đại .

3. Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở học sinh lớp 4B Trường Tiểu học ……

4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.

Trong đề tài này tôi tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề sau:

– Phương pháp học tập toán .

– “Lỗ hổng” kiến thức, kĩ năng của học sinh.

– Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng chậm.

– Năng lực tư duy yếu.

– Thờ ơ với giờ học trên lớp, thường xuyên không làm bài tập ở nhà.

5. Phương pháp nghiên cứu.

Để việc nghiên cứu đạt kết quản tốt, tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:

          1 Phương pháp đọc tài liệu.   

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi rất cần đọc các tài liệu sách và tham khảo trên các trang mạng về vấn đề phụ đạo cho học sinh.

          2. .- Phương pháp điều tra.

          Đó là việc theo dõi, kiểm tra thường xuyên sự tiếp thu bài của học sinh trong lớp.

3 – Phương pháp thực hiện.

          Khi đưa ra biện pháp khắc phục, tôi áp dụng trực tiếp vào trong lớp do tôi giảng dạy .

II. PHẦN NỘI DUNG

1. Cơ sở lí luận.

Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình, tính cách và cả khả năng nhận thức trong học tập. Có học sinh tiếp thu bài học rất nhanh, nhưng cũng có những em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí là không hiểu gì thông qua các hoạt động trên lớp .

Vậy là một giáo viên chủ nhiệm thì ta phải làm gì đối với những học sinh yếu, kém về tiếp thu này ?  Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học .

Thật may mắn cho tôi, qua nhiều năm được phân công giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm khối lớp 4 đó là điều kiện tốt nhất giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi và đề ra các biện pháp giáo dục thích hợp để rèn cho những em học sinh yếu có thể nắm được bài học và hoà nhập vào hoạt động học trên lớp cùng các bạn.

Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại trường Tiểu học Ngô Quyền, Tôi luôn được sự hướng dẫn tận tình của BGH nhà trường, sự hỗ trợ tận tình của tập thể HĐSP. Đặc biệt là những khó khăn mà tôi gặp phải trong quá trình công tác luôn được sự chia sẽ và quan tâm của tập thể. Chính vì sự chia sẽ nhiệt tình đó đã góp phần tạo nên nhiều sáng kiến hữu ích được áp dụng thành công. Sáng kiến kinh nghiệm ” Phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4″ là vấn đề mà tôi hết sức quan tâm.

Với những đặc thù của các trường học vùng dân tộc thiểu số, mỗi học sinh ở lại lớp cũng đồng nghĩa với khả năng em đó sẽ bỏ học trong khi việc vận động học sinh đi học lại rất khó. Tỷ lệ học sinh yếu kém về cảc bộ môn Toán và Tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số thường cao hơn so với học sinh người Kinh vì các em vừa đồng thời phải tiếp thu những kiến thức khoa học hoàn toàn mới mẻ vừa phải học Tiếng Việt. Khối lượng kiến thức mà các em phải tiếp thu là rất lớn, các em lại không có thói quen tự học ở nhà, cha mẹ cũng không thể hướng dẫn cho con em học vì nhiều lý do. Bên cạnh đó có học sinh yếu kém do chưa nhận thức đúng mục đích, động cơ học tập, ….

2. THỰC TRẠNG

2.1.Thuận lợi – khó khăn:

* Thuận lợi.

Trường …… được sự quan tâm của các bậc cha mẹ học sinh. Học sinh đến trường với đầy đủ sách vở và đồ dung học tập. Đa số học sinh ở các thôn, buôn lân cận nên các em đi học đều và đúng giờ. Trường có đội ngũ giáo viên trẻ , có tâm huyết với nghề . Giáo viên luôn nêu cao tinh thần tự học nên trình độ giáo viên ngày càng được nâng cao đáp ứng với nhu cầu dạy học trong giai đoạn hiện nay với 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Trường cũng đặc biệt nhận được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của các cấp lãnh đạo các cấp.

* Khó khăn.

Bên cạnh những thuận lợi đó cũng còn rất nhiều khó khăn trong công tác dạy học như: đồ dùng dạy học còn hạn chế nhất là đối với khối lớp bốn cả trường có 3 lớp nhưng chỉ có một ít bộ đồ dung đã cũ không sử dụng được, theo dự án VNEN cứ hai lớp có một máy phô tô copy nhưng đến nay toàn trường chưa có chiếc máy nào nên việc dạy học gặp nhiều khó khăn. Một số phụ huynh còn coi nhẹ việc học tập của con em mình.. Chưa thật sự quan tâm chăm lo và đôn đốc con em mình học tập mà còn phó thác cho thầy cô.

Một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn như: Nhà nghèo, ở với ông bà do cha mẹ mất sớm nên ảnh hưởng đến việc học hành của các em.

Còn phần lớn các em trong lớp có bố mẹ xuất thân từ thành phần làm nông, trình độ văn hoá thấp không có khả năng kèm cặp con cái ở nhà.

Đặc biệt hoàn cảnh của 8 em học lực yếu đều có khó khăn , 4 trong số phụ huynh của các em chưa học hết lớp 5. Đa số phụ huynh đều thiếu quan tâm đến việc học hành của con em mình. Chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học

đối với các em. Có em còn phải đi làm thêm những công việc như mót cà phê, làm cỏ, thâm chí có em còn bỏ học nhiều ngày theo bố mẹ đi làm.

Thực trang sách giáo khoa có đổi mới song chương trình nội dung môn toán lớp 4 còn rất nặng .


3. CÁC BIỆN PHÁP

3.1. Mục tiêu biện pháp.

Từ những phân tích đánh giá trên tôi nghĩ các vấn đề thực trạng đó đã ảnh hưởng  trực tiếp đến chất lượng dạy – học môn toán cho học sinh lớp 4. Trên cơ sở đó tôi đã nghiên cứu đưa ra biện pháp khắc phục trong quá trình giảng dạy tại lớp của mình , và cùng trao đổi với bạn bè đồng nghiệp cùng áp dụng để đạt kết quả tốt hơn trong việc phụ đạo học sinh yếu cho học sinh trong nhà trường.

3.2. Nội dung và cách thức thực hiện các biện pháp.

3.2.1. Các biện pháp chung:

Xây dựng môi trường học tập thân thiện:

Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình.

Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình.

Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em.

– Phân loại các đối tượng học sinh

Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài chậm, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…

Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông qua đặc trưng này.

Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên quan tâm phát hiện và phân loại những lỗ hổng kiến thức, kĩ năng của học sinh. Những lỗ hổng nào điển hình mà trên lớp chưa đủ thời gian khắc phục thì cần có kế hoạch tiếp tục giải quyết trong nhóm học sinh yếu kém.

Thông qua quá trình học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, giáo viên cũng cần tập cho học sinh, kể cả học sinh yếu kém có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết cách tự lấp những lỗ hổng đó.

Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp. Ví dụ khi học bài: Giải toán về tìm số trung bình cộng (Toán–lớp 4 ), đối với các em học sinh yếu thì các em chỉ cần nắm bài toán cụ thể áp dụng trực tiếp quy tắc.

Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các em..

Đối với học sinh yếu , giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức và tăng cường luyện tập vừa sức.

Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng học sinh yếu . Vì vậy khi làm việc riêng với nhóm học sinh yếu , cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình.

Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ chức phụ đạo từ 1 đến 2 buổi trong một tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui chơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề.

– Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:

Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết

dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức.

Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học. Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do hiện nay, có một số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫn đến chất lượng không cao. Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên.

– Kèm cặp học sinh yếu:

Ngay từ đầu năm giáo viên phải khảo sát chất lượng để biết số lượng học sinh yếu, trung bình, khá giỏi là bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo.

Xây dựng chương trình : Đôi bạn cùng tiến. Phân công một em học sinh khá, giỏi kèm cặp, giúp đỡ một em học sinh yếu.

Lập danh sách học sinh yếu và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết dạy như thường xuyên gọi các em đó trả lời câu hỏi, khen ngợi các em đó khi các em trả lời đúng,…

3.2.2. Những biện pháp cụ thể:

Tạo tiền đề xuất phát

Việc học tập có kết quả trong một tiết học thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kĩ năng sẵn có của học sinh. Thế nhưng các em yếu kém nhiều khi chưa có đủ những tiền đề này. Một trong những nội dung làm việc với các học sinh yếu, kém là phải giúp các em tạo tiền đề xuất phát cho những tiết lên lớp. Việc tạo tiền đề xuất phát thường được tiến hành theo quy trình sau:

– Trước hết, bản thân GV phải nắm vững nội dung và khối lượng kiến thức, kĩ năng cần có trong những tiền đề xuất phát. Muốn vậy điều quan trọng là cần nghiên cứu sâu sắc những tài liệu chỉ đạo của Bộ, Sở, Phòng Giáo dục…; chuẩn kiến thức kĩ năng, SGK, sách GV…

– Thứ hai, GV cần biết những kiến thức kĩ năng cần thiết đã có sẵn ở các HS yếu, kém tới mức độ nào. Điều này có thể được thực hiện nhờ quá trình theo dõi từ trước hoặc bằng biện pháp kiểm tra.

– Thứ ba là cho tái hiện những kiến thức và kĩ năng cần thiết, tức là GV cho HS ôn tập trước khi dạy nội dung mới hoặc ôn tập những lúc thích hợp trong mối liên quan với từng nội dung.

Lấp lỗ hổng kiến thức

Như chúng ta đã biết, kiến thức có nhiều lỗ hổng là một bệnh phổ biến của HS yếu kém môn toán. Việc tạo tiền đề xuất phát cũng chính là nhằm lấp lỗ hổng kiến thức và kĩ năng. Vì vậy, trong quá trình dạy học trên lớp, tôi thường quan tâm phát hiện những lỗ hổng kiến thức của HS. Những lỗ hổng nào điển hình đối với HS yếu mà trên lớp chưa đủ thời gian khắc phục thì tôi có kế hoạch tiếp tục giải quyết riêng trong nhóm HS yếu .

Thông qua quá trình hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng của HS, tôi thường tập cho HS, kể cả HS yếu có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết cách tra cứu sách vở, học lại để tự lấp những lỗ hổng đó.

Ví dụ: Những HS chưa thuộc bảng nhân chia, ngay từ đầu năm học, tôi yêu cầu các em tìm lại SGK lớp 3 để học cho thuộc.

Trong lớp bản thân chủ nhiệm có một số em thì hầu như là không biết tính khi học toán. Nguyên nhân thì có rất nhiều, bản thân chỉ xin nêu một số nguyên nhân tiêu biểu: Không nắm được các phép tính cộng, trừ có nhớ, không thuộc bảng nhân, bảng chia. Không nắm được lí thuyết (công thức, quy tắt…).

Không nắm được cấu tạo số tự nhiên (hàng, lớp, cách đặt tính)

Vậy, đối với những học sinh không biết tính thì giáo viên cần: Hướng dẫn để các em hiểu, cộng có nghĩa là thêm vào, trừ là bớt đi. Khi thực hiện các phép tính cộng, trừ, giáo viên nên sử dụng nhiều hình ảnh trực quan cho các em cầm, nắm, sờ vào và thực hành đếm. Được thực hành nhiều lần, dần dần các em sẽ nhớ và biết cách tính. Ôn lại các hàng, lớp và cách đặt tính số tự nhiên. Giáo viên cho học sinh làm các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ban đầu, cho học sinh đặt tính các số có các chữ số thuộc cùng một hàng. Như:

Ví dụ: 123 +345

Sau đó, cho học sinh đặt tính các số có các chữ số lệch hàng.: 567 + 89

Để biết đặt tính thì các em phải thuộc tất cả các hàng theo thứ tự từ nhỏ đến lớn hoặc từ lớn đến nhỏ.

Luyện tập vừa sức

Đối với HS yếu, tôi luôn coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức. Do đó khi hướng dẫn HS luyện tập, tôi luôn đặc biệt chú ý các điều sau:

– Đảm bảo cho HS hiểu đề bài: HS yếu nhiều khi vấp ngay từ bước đầu tiên: không hiểu bài toán nói gì, do đó không tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy tôi đã dùng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp HS hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó.

– Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn một kĩ năng nào đó, HS kém cần giải những bài tập cùng thể loại và cùng mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình. Phần gia tăng này thường tiến hành trong các tiết ôn luyện hoặc những buổi phụ đạo riêng với nhóm HS yếu, kém toán. Chẳng hạn, với dạng toán tìm x mà HS hay nhầm lẫn nhất là: a – x = c, x – a = c , tôi đã cho rất nhiều bài tập trong nhiều tiết ôn luyện mà không sợ nhàm như trường hợp HS khá giỏi.

– Sử dụng những bài tập vừa sức, chủ yếu là cho HS giải các bài tập thuộc dạng cơ bản, tránh ra thêm cho các em những dạng bài tập mới có tính chất mở rộng, nâng cao kiến thức.

Rèn luyện phương pháp học tập

Yếu về phương pháp học tập là một tình hình phổ biến của HS yếu môn toán. Hơn nữa, có thể nói rằng đó là nguyên nhân của tình trạng yếu kém đối với một bộ phận khá đông trong những HS diện này. Vì vậy, một trong những biện pháp khắc phục tình trạng HS yếu là giúp đỡ các em về phương pháp học tập.

Với HS yếu tôi thường xuyên hướng dẫn nhắc nhở các em từ những cách thức học toán sơ đẳng như: nắm được kiến thức lí thuyết mới làm bài tập, đọc kĩ đầu bài trước khi làm, vẽ hình hoặc vẽ sơ đồ phải sáng sủa, viết nháp rõ ràng, phát biểu thành câu đủ ý, trình bày bài khoa học, không tẩy xoá, giải toán xong phải kiểm tra lại đáp số và biết thử lại…

Tạo phong trào thi đua sôi nổi giữa các nhóm, tổ nhằm nâng cao chất lượng học tập, tính đoàn kết, thi đua lành mạnh giữa các nhóm, tăng cường trách nhiệm đối với những bạn nhóm truởng, về chất lưọng học tập của nhóm mình. Tổ chức bình bầu nhóm học tốt vào các tiết sinh hoạt lớp hàng tuần .

Khuyến khích các em tự rèn vào vở bài tập đối với các dạng bài thường sai, xem trước bài mới…

4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm , giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

Qua 6 tháng thực nghiệm ở lớp kết quả thu được khá tốt về mọi phương diện. Qua đợt kiểm tra chất lượng cuối học kỳ I học sinh lớp tôi tiến bộ hẳn lên. Chỉ còn có 1 học sinh yếu so vời 8 em hồi đầu năm ; các em đã có sự tiến bộ vượt bậc. Học sinh khá giỏi cũng được nâng lên 50 % so vơi đầu năm là 20,8 % .

Kết quả trên khảng định biện pháp mà tôi thực hiện là có hiệu quả, từ lúc áp dụng các các biện pháp trên học sinh tích cực, hào ứng với những tiết học toán các em không còn rụt rè thiếu tự tin như trước.

III. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ.

3.1 . KẾT LUẬN

Việc áp dụng đề tài vào giảng dạy đã làm cho trình trạng học sinh yếu kém giảm đáng kể, học sinh càng ngày càng thích học môn toán hơn, các em hứng thú học tập, mến thầy, yêu bạn thích được học tập.

Những biện pháp tôi vừa trình bày không phải quá xa lạ đối với chúng ta. Bất cứ ai cũng có thể hiểu và áp dụng được. Tuy vậy, trong thực tế không phải lúc nào đối tưọng học sinh yếu kém cũng đựơc giáo viên chú trọng nó đòi hỏi ở lương tâm người thầy, cần phải coi học sinh như chính những đứa con của mình .Khi những cố gắng của người giáo viên đạt kết quả tốt, được học sinh tin yêu. Đó mới chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời dạy học của mình .

Do hạn chế về kiến thức, thời gian nên việc xây dựng sáng kiến kinh nghiệm không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các đồng chí đồng nghiệp góp ý kiến để sáng kiến kinh nghiệm ngày càng hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này ./.

3.2 . KIẾN NGHỊ

Đối ban giám hiệu và các cấp lãnh đạo cần kịp thời động viên khen thưởng những giáo viên có thành tích trong việc nâng cao chất lượng dạy và học .

Kiểm tra chất lượng định kỳ cần phải thực hiện nghiêm túc, khách quan để đánh giá chất lượng học sinh. Không để tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp.

Nhà trường cần tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất để học sinh yếu kém đựơc phụ đạo thường xuyên.

Cần biểu dương, khen thưởng những học sinh vượt khó để học tập tiến bộ .

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

01: Tạp chí: Dạy và học ngày nay ( Cơ quan tw hội khuyến học)

02: Chuyên đề giáo dục tiểu học( tập 23,24, 25)

03: Sách giáo viên toán 4

04: Thiết kế bài giảng Toán 4

05: Một số trang mạng của ngành giáo dục.